Thiên kiến nhận thức khi sử dụng mạng xã hội của sinh viên

Thiên kiến nhận thức khi sử dụng mạng xã hội của sinh viên

Các tác giả

  • Lê Thị Diễm Hương Tác giả
  • Nguyễn Vũ Linh Chi Tác giả
  • Nguyễn Thị Duyên Tác giả
  • Vũ Thu Trang Tác giả

DOI:

https://doi.org/10.1243/95req956

Từ khóa:

Thiên kiến nhận thức, Mạng xã hội, Sinh viên

Tóm tắt

Thiên kiến nhận thức là những sai lệch trong đánh giá thông tin dựa trên các kinh nghiệm, cảm xúc cá nhân thay vì tư duy logic. Thiên kiến nhận thức dễ xảy ra khi con người tiếp xúc với thông tin nhanh và gây cảm xúc mạnh trên mạng xã hội. Nghiên cứu này tập trung vào bốn loại thiên kiến nhận thức phổ biến trên mạng xã hội: thiên kiến “đoàn tàu”, thiên kiến địa vị, thiên kiến đóng khung và thiên kiến tiêu cực. Khảo sát bằng bảng hỏi được thực hiện từ tháng 12/2024 đến tháng 1/2025 trên 446 sinh viên (41,3% nam, 58,7% nữ; Mtuổi = 19,4) thường xuyên sử dụng mạng xã hội, sử dụng thang đo Tự đánh giá và thang đo Tình huống. Kết quả cho thấy, sinh viên thể hiện cả bốn loại thiên kiến nhận thức trong quá trình sử dụng mạng xã hội, trong đó thiên kiến đóng khung và thiên kiến “đoàn tàu” xuất hiện thường xuyên nhất, tiếp đến là thiên kiến tiêu cực và thiên kiến địa vị. Sinh viên ưu tiên tiếp nhận các thông tin tích cực, khẩn cấp (thiên kiến đóng khung), được nhiều người quan tâm (thiên kiến “đoàn tàu”) hơn các thông tin tiêu cực (thiên kiến tiêu cực) hoặc do người có địa vị xã hội chia sẻ (thiên kiến địa vị) trên mạng xã hội. Kết quả này cho thấy việc tiếp nhận thông tin trên mạng xã hội không diễn ra khách quan mà phụ thuộc vào thiên kiến nhận thức; vì vậy cần có các chương trình giáo dục truyền thông nhằm nâng cao nhận thức và năng lực tư duy phản biện cho sinh viên khi tiếp nhận thông tin trên mạng xã hội.

Tài liệu tham khảo

Tài liệu tiếng Việt

1. Võ Thị Hiếu, Bùi Hữu Phước và Bùi Nhất Vương (2020). Tác động của các yếu tố hành vi đến quyết định và hiệu quả đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Kinh tế - Kỹ thuật, 3(31), 36-51.

2. Nguyễn Hải Ninh, Đinh Vân Oanh và Lê Bùi Quỳnh Như (2019). Nghiên cứu tác động của marketing sử dụng người có ảnh hưởng trên mạng xã hội tới thái độ của người tiêu dùng đối với thương hiệu ngành F&B Việt Nam. Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế Kinh doanh số và Marketing trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, NXB Lao động - Xã hội, 284-301.

Tài liệu tiếng Anh

3. Baum, J., Frömer, R., & Abdel Rahman, R. (2024). Emotional content reduces the cognitive effort invested in processing the credibility of social (mis) information. Emotion, 24(6), 1468-1480.

4. Bikhchandani, S., Hirshleifer, D., & Welch, I. (1992). A theory of fads, fashion, custom, and cultural change as informational cascades. Journal of Political Economy, 100(5), 992-1026.

5. Boyd, D. M., & Ellison, N. B. (2007). Social network sites: Definition, history, and scholarship. Journal of Computer-Mediated Communication, 13(1), 210-230.

6. Dewey, J. (1910). How we think. D.C. Heath & Co.

7. Di Domenico, G., Sit, J., Ishizaka, A., & Nunan, D. (2021). Fake news, social media and marketing: A systematic review. Journal of Business Research, 124, 329-341.

8. Druckman, J. N. (2001). The implications of framing effects for citizen competence. Political Behavior, 23(3), 225-256.

9. Eickhoff, C. (2018). Cognitive biases in crowdsourcing. In Proceedings of the eleventh ACM international conference on web search and data mining. New York:

Association for Computing Machinery (pp. 162-170).

10. James, W. (1890). The principles of psychology. Henry Holt and Company.

11. Kahneman, D. (2011). Thinking, fast and slow. Farrar, Straus and Giroux.

12. Kahneman, D., & Tversky, A. (1979). Prospect theory: An analysis of decision under risk. Econometrica, 47(2), 263-291.

13. Lajnef, K. (2023). The effect of social media influencers' on teenagers Behavior: an empirical study using cognitive map technique. Current Psychology, 42(22), 19364-19377.

14. Milgram, S. (1963). Behavioral study of obedience. Journal of Abnormal and Social Psychology, 67, 371-378.

15. Modgil, S., Singh, R. K., Gupta, S., & Dennehy, D. (2024). A confirmation bias view on social media induced polarisation during COVID-19. Information Systems Frontiers, 26(2), 417-441.

16. Pennycook, G., & Rand, D. G. (2019). Lazy, not biased: Susceptibility to partisan fake news is better explained by lack of reasoning than by motivated reasoning. Cognition, 188, 39-50.

17. Rozin, P., & Royzman, E. B. (2001). Negativity bias, negativity dominance, and contagion. Personality and Social Psychology Review, 5(4), 296-320.

18. Simon, H. A. (1955). A behavioral model of rational choice. The Quarterly Journal of Economics, 69(1), 99-118.

19. Tversky, A., & Kahneman, D. (1974). Judgment under uncertainty: Heuristics and biases. Science, 185(4157), 1124-1131.

20. Tversky, A., & Kahneman, D. (1981). The framing of decisions and the psychology of choice. Science, 211(4481), 453-458.

21. We Are Social & Meltwater (2024). Digital 2024 Global Overview Report. https://datareportal.com/reports/digital-2024-global-overview-report.

Lượt tải xuống

Đã Xuất bản

2026-05-12

Các bài báo tương tự

31-40 trên 74

Bạn cũng có thể bắt đầu một tìm kiếm tương tự nâng cao cho bài báo này.