Đời sống tôn giáo trong không gian số ở Việt Nam: lý thuyết và các phát hiện nghiên cứu
Đời sống tôn giáo trong không gian số ở Việt Nam: lý thuyết và các phát hiện nghiên cứu
DOI:
https://doi.org/10.1243/wpva7a73Từ khóa:
tôn giáo, không gian số, truyền thông hóa, siêu trung gianTóm tắt
Tóm tắt: Internet, điện thoại thông minh và mạng xã hội đã làm cho không gian số trở thành một phần thiết yếu của đời sống, kể cả đời sống tôn giáo ở Việt Nam. Nghiên cứu tôn giáo trong không gian số ở Việt Nam là lĩnh vực mới, còn thiếu vắng các nghiên cứu tổng quan và cơ sở lý thuyết vững chắc. Trên cơ sở đề xuất tích hợp lý thuyết truyền thông hóa về tôn giáo của Stig Hjarvard và lý thuyết siêu trung gian của Evolvi làm khung phân tích, và thu thập dữ liệu bằng phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp khảo sát sự hiện diện số của các tổ chức tôn giáo và phân tích trường hợp kênh truyền thông trực tuyến của Phật giáo và Công giáo, bài viết này góp phần tái khẳng định hai quan điểm lý thuyết trên và cho thấy truyền thông đang chi phối, định hình thiết chế tôn giáo và không gian số đang trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tôn giáo.
Tài liệu tham khảo
Le Duc, A. (2019). The effect of digital development on church and society in Southeast Asia: A survey. Religion and Social Communication, 17(1), 1–29. https://ssrn.com/abstract=3643837
Ban Tôn giáo Chính phủ. (2022). Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam. Hà Nội: Nxb Tôn giáo.
Benyon, D. (2014). Digital space. In Spaces of interaction, places for experience (pp. 37–44). Springer. https://doi.org/10.1007/978-3-031-02206-7_4
Đỗ Thu Hường, & Lưu Thị Kim Quế. (2016). Truyền thông mạng Công giáo ở Việt Nam hiện nay. Nghiên cứu Tôn giáo, 2, 63–72.
Durkheim, E. (1995). The elementary forms of religious life. The Free Press.
Evolvi, G. (2022a). Religion and the internet: Digital religion, (hyper)mediated spaces, and materiality. Zeitschrift für Religion, Gesellschaft und Politik, 6(1), 9–25. https://doi.org/10.1007/s41682-021-00087-9
Evolvi, G. (2022b). The theory of hypermediation: Anti-gender Christian groups and digital religion. Journal of Media and Religion, 21(2), 69–88. https://doi.org/10.1080/15348423.2022.2059302
Hjarvard, S. (2008). The mediatization of religion: A theory of the media as agents of religious change. Northern Lights: Film & Media Studies Yearbook, 6(1), 9–26. https://doi.org/10.1386/nl.6.1.9_1
Lê Đức Hùng. (2005). Hoạt động truyền giáo trong bối cảnh bùng nổ thông tin của thế giới hiện đại. Nghiên cứu Tôn giáo, 6, 25–30.
Mai Thị Hạnh. (2014). Chùa online và vấn đề hiện đại hóa Phật giáo trong bối cảnh xã hội Việt Nam đương đại. Nghiên cứu Tôn giáo, 12(138), 46–59.
Meltwater, & We Are Social. (2025). Digital 2025: Vietnam. Truy xuất từ: https://datareportal.com/reports/digital-2025-vietnam
Nguyễn Thanh Hải. (2018). Phật giáo thời kỹ thuật số. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Đà Nẵng, 10(131), 25–29.
Nguyen Thanh Thu Uyen. (2024). Motivations behind the Buddhism-related activity engagement of Vietnamese young adults. Bangkok University.
Nguyễn Thị Minh Ngọc, & Nguyễn Thúy Hà. (2014). Truyền thông đại chúng về tôn giáo trong bối cảnh đa dạng tôn giáo tại Việt Nam hiện nay. Xã hội học, 1(125), 65–74.
Scolari, C. A. (2015). From (new) media to (hyper)mediations. Information, Communication & Society. https://doi.org/10.1080/1369118X.2015.1018299
Tran, K., & Nguyen, T. (2021). Preliminary research on the social attitudes toward AI’s involvement in Christian education in Vietnam. Religions, 12(208). https://doi.org/10.3390/rel12030208
Ủy ban Truyền thông Xã hội. (2024). Danh sách trang web và mạng xã hội chính thức của Hội đồng Giám mục và các giáo phận tại Việt Nam. Truy xuất từ: https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/danh-sach-trang-web-va-mang-xa-hoi-chinh-thuc-cua-cac-giao-phan-viet-nam-42223
Weitschies, I. (2025). From living in the shadows to Facebook livestreams: The impact of social media on current mediumship practice of Mother Goddesses worship in Vietnam. Religion and Social Communication, 23(2), 451–473.


